San Francisco
Thành phố San Francisco lần này ấn tượng với tôi như là thành phố của mùi. Có lẽ bảy mươi phần trăm của nó là mùi của “cỏ,” còn lại là mùi nước tiểu và thậm chí cả phân. Mà không phải là loại nước tiểu mới được đái xuống đường, đó là một loại mùi xú uế của nhiều lớp thời gian. Người SF đập vào mắt tôi nhiều nhất là những người hoặc bất động, hoặc động đậy không bình thường. Có cảm giác thành phố đang bị bỏ hoang và tràn ngập là những bóng ma vật vờ. Tất nhiên thực tế là có những người khác: vui tươi đầy năng lượng, họ nói cười vui vẻ. Họ là khách du lịch. Dường như tôi có một khả năng kỳ lạ: nhìn thấy hai thế giới cùng một lúc. Một thế giới của những cái bóng buồn tẻ, đầy mùi. Và một thế giới của những du khách xa lạ, ồn ào hơn, và không mùi.
Mà có thể như thế thật chứ. Vì hai thế giới này dường như không có sự tương tác. Họ không chạm vào nhau, không đi vào đường của nhau. Những cái bóng với đôi mắt trắng dã hoặc có con ngươi bất động được phủ kín bởi một lớp màng nhờ nhờ dày đặc, họ có vẻ không nhìn thấy gì. Nhiều người trong số họ thốt ra những câu xin tiền một cách đều đặn và vô thức, như thể không để ai nghe cả. Còn những du khách kia thì gần như rõ ràng là không nhìn và không nghe thấy điều gì, họ cứ thế bước qua. Có lúc có vẻ họ thấy nhau, bằng chứng là tôi thấy một người du khách ném mấy đồng xu vào một cái lon của người ăn xin. Vì nếu tôi không tin được thị giác được nữa thì ít nhất thính giác của tôi có thể khẳng định được điều đó, vì nếu không thì tiếng va chạm cộc lốc giữa những miếng kim loại đã chẳng vang lên. Nhưng sự kiện ngay sau đó lại dường như khẳng định lại hai nhóm người này không hề nhìn thấy nhau: một người ném đồng xu một cách rất vô thức, như ném một vật thừa thãi và không nhìn vào đối tượng mà họ bố thí. Còn người kia thậm chí chẳng buồn ngước lên và thốt ra một lời cảm ơn. Có lẽ chỉ có âm thanh và mùi vị là hiện hữu, như là phương tiện để hai thế giới giao tiếp với nhau. Ở đoạn gần ngã tư giữa Hyde street và O’Farrell mà tôi ngồi, có một gã ăn mày mặc áo lính đến gần một cô gái đang ngồi hút thuốc. Hắn xin điếu thuốc mà cô đang hút, nhưng cô không để ý, cho đến lúc hắn nổi cáu lên và chửi thề thì cô mới tỏ ra sợ sệt. Trước khi bỏ đi hắn cố giật điếu thuốc từ tay cô một cách thô bạo, nhưng kỳ lạ thay điếu thuốc vẫn nằm yên giữa các ngón tay của cô.
Sẽ thật thất vọng biết bao nếu như ta không thể tin vào đôi mắt của chính mình. Chẳng lẽ ánh sáng kia lại là giả? Ánh sáng – cái nguồn cho ta nhìn thấy sự vật. Thậm chí nó còn cố khẳng định sự tồn tại của một vật bằng cách tạo cho vật đó một cái bóng đổ. (Bóng mái nhà đổ lên tường, bóng cây đổ lên nhà vv). Nhưng ở SF, ta có toàn quyền để nghi ngờ sự trung thức của ánh sáng, cụ thể hơn là ánh nắng mặt trời, vì rõ ràng là tôi thấy lạnh cóng ngay cả khi đi dưới ánh nắng chói chang, đôi lúc tôi lại thấy nóng không thể chịu nổi. Những người đi trong SF có lẽ cũng cảm thấy như vậy. Họ ăn mặc thật kì lạ: người thì áo cộc tay với quần dài, người thì lại mặc shorts nhưng cùng với áo khoác.
Chúng tôi đi bộ rất lâu trên L và Hyde, và cuối cùng chúng tôi cũng tới phố Lombard ở Russian Hill, nơi có Winding Road. đó là một phong cảnh kỳ diệu. Có lẽ chẳng ở đâu trên thế giới này sự đi lại – nhu cầu giao thông tối thiểu của xe cộ – lại trở thành một môn nghệ thuật trình diễn, mà ở đó tài xế là những vũ công, khách đi bộ là người thưởng lãm, còn cảnh sát viên ở phía cuối con đường là nhạc trưởng.
Làm thế nào để có lại niềm tin vào thị giác, tôi tự hỏi. Có một sự tình cờ: chúng tôi lạc vào Học viện Nghệ thuật San Francisco, nơi mà không những góc nhìn được trải nghiệm bởi sự đóng mở của không gian qua những sân trong, hành lang với mái vòm, cầu thang, hay những không gian giật cấp mạnh bạo do sự tiên quyết của địa hình, mà còn là chốn riêng của chính nghệ thuật tạo hình. Chúng tôi rảo bước qua một sê-ri những gallery và gian triển lãm, hay những studio hội họa và điêu khắc. Ở đó, tôi cảm thấy sự hồ hởi và đam mê của các nghệ sĩ, sự háo hức của những sinh viên, nhiều người trong số họ trông rất ngơ ngác như vẻ mới nhập học. Tôi thấy sự vội vã của một cô gái đang nặn tượng một phụ nữ nằm khỏa thân. Dường như họ, những người làm tạo hình, đang vội vã vật lộn, nắm bắt lại hình ảnh và tạo ra những vật gì đó thực hơn, nhìn thấy được và sờ nắm được trước khi bị thành phố này hóa đá nốt các giác quan còn lại của họ. Tôi cũng mong như thế, rằng nghệ thuật hãy là phương tiện để đánh thức các giác quan.